Một vài nội dung góp ý đối với Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi)

Luật Tổ chức Quốc hội được Quốc hội khóa XIII xem xét, thông qua để thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 2013 và mới có hiệu lực thi hành được hơn 03 năm. Các quy định của Luật cơ bản đều phát huy tác dụng tốt, chưa có vướng mắc lớn; một số vấn đề tiếp tục cải tiến, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội đã và đang triển khai thực hiện thì cần có thêm thời gian để kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả trên thực tế. Do đó, việc hoàn thiện phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 là hết sức cần thiết.
Qua nghiên cứu về phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội cho thấy rằng phạm vi sửa đổi, bổ sung như dự thảo Luật còn hẹp, chủ yếu để tập trung vào cụ thể hóa các nội dung trong Nghị quyết số 18/NQ-TW để tinh gọn bộ máy mà chưa tập trung vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả, chất lượng hoạt động của Quốc hội; chưa thể hiện được vai trò trung tâm của ĐBQH trong hoạt động của Quốc hội; chưa khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện Luật thời gian qua; chưa tính đến đặc thù của cơ quan lập pháp cũng như khối lượng công việc ngày càng tăng của Quốc hội như hiện nay. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo quan tâm một số nội dung như sau:

Thứ nhất, cần làm rõ địa vị pháp lý của ĐBQH hoạt động chuyên trách. Trong những năm qua, Quốc hội nước ta đã có nhiều đổi mới về tổ chức và hoạt động, góp phần vào thành công chung của công cuộc đổi mới đất nước. Từ khóa XI đến nay, thực hiện Luật Tổ chức Quốc hội năm 2011, 2014 số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách ngày càng tăng lên từ 25% năm 2011 lên 35% từ năm 2016, bao gồm cả ĐBQH chuyên trách ở Trung ương và chuyên trách ở địa phương. Chính ĐBQH chuyên trách đã làm thay đổi đáng kể diện mạo về mặt tổ chức và cũng làm tăng hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và các Đoàn ĐBQH ở các địa phương. Tuy nhiên, đến nay pháp luật của nước ta chưa có những quy định đầy đủ cho ĐBQH chuyên trách. Hoạt động của ĐBQH chuyên trách vẫn chung nhiệm vụ, quyền hạn, địa vị pháp lý như ĐBQH nói chung; có chăng chỉ là khác về thời gian tham gia hoạt động và chủ yếu hoạt động ở Hội đồng Dân tộc, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Từ đó, dẫn đến việc ĐBQH chuyên trách, nhất là chuyên trách ở địa phương đang ở trong tình trạng “chơi vơi” như nhiều ĐBQH đã nêu qua các nhiệm kỳ. Đề nghị bổ sung quy định xác định rõ vị trí pháp lý của ĐBQH chuyên trách trong hệ thống chính trị tại Điều 21 nhằm tạo điều kiện cho ĐBQH chuyên trách tiếp tục phát huy vai trò, hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH ở địa phương.

Thứ hai, về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội (Điều 22). Như phân tích nêu trên, nhằm tạo điều kiện nâng cao chất lượng ĐBQH thì ngoài những tiêu chuẩn chung của ĐBQH theo quy định tại Điều 22, đề nghị bổ sung thêm một khoản quy định một số tiêu chuẩn riêng đối với ĐBQH chuyên trách theo hướng do UBTVQH quy định cụ thể hoặc có thể ghi trực tiếp vào trong dự thảo Luật như: hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực (kinh tế, xã hội, pháp luật); có trình độ từ đại học trở lên; đang giữ ngạch chuyên viên chính trở lên; có quy hoạch giữ chức danh lãnh đạo Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (đối với ĐBQH chuyên trách Trung ương) và Lãnh đạo Sở ngành hoặc tương đương có quy hoạch Lãnh đạo HĐND, UBND cấp tỉnh trở lên (đối với ĐBQH chuyên trách địa phương). Điều này phù hợp với các quy định về công tác cán bộ của Đảng (Hướng dẫn 38 của Ban Tổ chức Trung ương) nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐBQH nói chung và ĐBQH chuyên trách nói riêng bởi vì ĐBQH chuyên trách hoạt động 100% thời gian cho hoạt động Quốc hội, không chỉ hoạt động ở địa phương nơi ứng cử mà còn hoạt động ở nhiều địa phương khác trên cả nước. Mặt khác, ĐBQH chuyên trách cần có kiến thức sâu rộng để làm tốt vị trí, vai trò là đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước theo Điều 21 của Luật. Từ đó cho thấy việc nâng cao tiêu chuẩn của ĐBQH chuyên trách là phù hợp. Đồng thời, bổ sung quy định ĐBQH phải có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhằm phù hợp với trường hợp người ứng cử có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch một nước khác.

Thứ ba, về tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách (Điều 23). Đề nghị điều chỉnh theo hướng nâng tỷ lệ hoạt động chuyên trách lên mức cao hơn (trên 45%) để có cơ sở phấn đấu và cũng là điều kiện, là tiền đề để xây dựng Đề án bầu cử các khóa tiếp theo mà cụ thể là bầu cử Quốc hội khóa XV nhiệm kỳ 2021 - 2026, đồng thời cũng đáp ứng chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết 18 và cũng là yêu cầu để các địa phương quan tâm công tác chuẩn bị nhân sự cho Đoàn ĐBQH. Mặt khác, qua nghiên cứu kinh nghiệm nghị viện một số nước cho thấy, phần lớn nghị viện các nước hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên; tất cả nghị sĩ là các chính trị gia hoạt động chuyên trách. Mặt khác, khái niệm chuyên trách được hiểu khác nhau, đồng nghĩa với phạm vi những công việc mà nghị sĩ được phép đảm trách bên cạnh công việc của Quốc hội cũng khác nhau. Có những quốc gia yêu cầu đại biểu không được kiêm nhiệm các chức vụ bên hành pháp, hành chính, không được tham gia các hành vi thương mại, không được tham gia quản lý tại các doanh nghiệp nhà nước, ví dụ quy định của Ba Lan. Có nước quy định nghị sĩ phải hoạt động chuyên trách, không được phép kiêm nhiệm làm công chức như ở Nhật Bản. Có nước khác quan niệm chuyên trách theo nghĩa là không được kiêm nhiệm các chức vụ trong bộ máy hành chính nhưng vẫn có thể làm luật sư, doanh nhân như ở Singapore. Bên cạnh phần lớn các nghị viện hoạt động chuyên trách, chuyên nghiệp, trên thế giới vẫn còn một số ít Quốc hội hoạt động chưa thường xuyên, có đại biểu chưa phải là chính khách chuyên nghiệp, có đại biểu kiêm nhiệm, ví dụ như Lào, Việt Nam, Trung Quốc…

Thứ tư, về đánh giá hoạt động của ĐBQH và chuyển sinh hoạt của ĐBQH trong trường hợp chuyển công tác (Điều 38). Nên có quy định bổ sung nhiệm vụ đánh giá hoạt động của ĐBQH nói chung và đánh giá hoạt động của ĐBQH chuyên trách nói riêng. Mặt khác đề nghị Tỉnh ủy và UBTVQH phối hợp công tác đánh giá làm cho công tác đánh giá đầy đủ hơn. Về chuyển sinh hoạt của ĐBQH chuyển công tác, đề nghị giữ như quy định hiện hành là nếu ĐBQH chuyển công tác đến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  thì được chuyển sinh hoạt đến Đoàn ĐBQH nơi mình nhận công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐBQH hoạt động và phù hợp với công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước và thực tế thực hiện không có vướng mắc lớn.

Thứ năm, về địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH (khoản 1 Điều 43). Hiện nay, Luật Tổ chức Quốc hội chưa quy định cụ thể địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH, trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng không có quy định nào về cơ quan này. Vì vậy, đề nghị làm rõ địa vị pháp lý, vai trò của Đoàn ĐBQH trong hệ thống chính trị ở địa phương, không nên xác định Đoàn ĐBQH chỉ là hình thức tổ chức hoạt động cho ĐBQH mà đây là một cơ cấu của Quốc hội tại địa phương, là cánh tay nối dài của Quốc hội ở địa phương. Từ đó đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 43 như sau: “Đoàn ĐBQH là tổ chức có tư cách pháp nhân, có con dấu, có trụ sở và kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật” để bảo đảm hoạt động của Đoàn ĐBQH hiệu quả, nhất là trong các mối quan hệ với các cơ quan ở trung ương, cơ quan ở địa phương và khẳng định vị thế của Đoàn ĐBQH. Đồng thời, đề nghị thay tên gọi “Đoàn ĐBQH tỉnh ...” bằng “Đoàn ĐBQH tại tỉnh ...” để không làm giới hạn phạm vi hoạt động của ĐBQH.

Thứ sáu, về thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH. Cần nghiên cứu bổ sung quy định chặt chẽ hơn việc thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH nhằm để đảm bảo cho ĐBQH thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình. Đồng thời, bổ sung quy định giao cho Quốc hội hoặc UBTVQH thẩm quyền cho thôi làm nhiệm vụ ĐBQH nếu Quốc hội hoặc UBTVQH nhận thấy ĐBQH không thể hoặc không có điều kiện thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH trong thời gian dài do nguyên nhân ốm đau hoặc một số lý do bất khả kháng khác mà không cần phải có đơn xin thôi của ĐBQH nhằm ngày càng nâng cao thực chất, chất lượng hiệu quả hoạt động Quốc hội. Ngoài ra, đề nghị xem lại một số nội dung về cho thôi, miễn nhiệm, bãi nhiệm ĐBQH trong một số trường hợp, làm rõ khái niệm cho thôi làm nhiệm vụ ĐBQH. Xem xét bổ sung quy định xử lý kỷ luật đối với ĐBQH và đại biểu dân cử nói chung vì hiện nay chưa được quy định. Bổ sung quy định việc cho thôi, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với ĐBQH là cán bộ, công chức (CBCC) bị xử lý kỷ luật theo quy định của Luật CBCC theo hướng nếu bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên thì bãi nhiệm. Bổ sung việc xử lý kỷ luật tương ứng đối với ĐBQH không phải là CBCC. Bổ sung nguyên tắc việc cho thôi làm nhiệm vụ hoặc miễn nhiệm chỉ áp dụng đối với trường hợp vì lý do sức khỏe hoặc điều trị bệnh dài hạn, có quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều động ra nước ngoài công tác dài hạn, hoặc các lý do khác mà ĐBQH có đơn xin thôi…và không áp dụng cho thôi hoặc miễn nhiệm đối với các trường hợp bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên. 

Thứ bảy, về phụ cấp và các chế độ khác của ĐBQH (Điều 41). Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp huy đầy đủ vị trí, vai trò của Quốc hội, trong đó có các ĐBQH đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Chế định ĐBQH chuyên trách cần được tiếp tục hoàn thiện trong mối quan hệ với việc đổi mới Quốc hội; nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới cả trong việc hoàn thiện chế độ, chính sách về lương, phụ cấp đại biểu, điều kiện vật chất làm việc bảo đảm cho ĐBQH chuyên trách. Do đó, đề nghị điều chỉnh tên Điều 41 về phụ cấp và các chế độ khác của ĐBQH thành Tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác của ĐBQH và bổ sung các quy định theo hướng phân biệt rõ tiền lương, phụ cấp chế độ khác của ĐBQH nói chung và ĐBQH chuyên trách nói riêng. Theo đó, đề nghị điều chỉnh Khoản 1 quy định tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác của ĐBQH chuyên trách và phụ cấp của ĐBQH không hưởng lương từ ngân sách từ NSNN do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.

Từ những quy định của Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về cải cách tiền lương, tôi xin đề xuất chính sách tiền lương đối với ĐBQH chuyên trách cần được hoàn thiện theo hướng: (1) Trong bảng lương chức vụ chung của Nhà nước, cần xây dựng riêng các ngạch lương cho ĐBQH chuyên trách. Trong ngạch này có thể xây dựng từ 3 đến 4 thang lương. Một thang của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội (tương tự như thang lương của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ); một thang của Ủy viên UBTVQH gắn Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban; một thang của Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban; một thang lương cho Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn ĐBQH các tỉnh, thành. (2) Trong bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ chung của Nhà nước, có thể xây dựng ngạch lương riêng cho ĐBQH chuyên trách không giữ chức danh lãnh đạo gồm 3 thang lương: Một thang của Ủy viên thường trực, một thang của Ủy viên chuyên trách và một thang của các Ủy viên khác. Các thang lương đó cũng chỉ nên thiết kế từ 2 đến 4 bậc là hợp lý. Trong đó bậc 1 tương đương với bậc 4 của bảng lương chung của Nhà nước. (3) Về các chế độ phụ cấp lương, theo Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII thì trong số các khoản phụ cấp còn được giữ lại, đối với ĐBQH chuyên trách có thể áp dụng khoản là phụ cấp lưu động  (ĐBQH hoạt động trong khắp cả nước).

Thứ tám, về trách nhiệm và quyền của ĐBQH (từ Điều 26 đến 37). Đề nghị Luật hóa việc ĐBQH chuyên trách họp 01 năm 02 lần hiện nay trước các Kỳ họp định kỳ vào Điều 24 của Dự thảo Luật. Đề nghị nghiên cứu bổ sung trách nhiệm và quyền của ĐBQH chuyên trách chứ không chỉ quy định chung như hiện nay. Bởi vi như phân tích ở trên, việc hình thành và thiết lập chế định đại biểu chuyên trách là một bước phát triển quan trọng của cơ chế đại diện dân cử ở nước ta.
Thứ chín, về tên gọi và địa vị pháp lý của 02 cơ quan thuộc UBTVQH. Ban Công tác đại biểu và Ban Dân nguyện là 02 cơ quan thuộc UBTVQH được thành lập từ năm 2003, qua 16 năm hình thành và phát triển đã khẳng định được vai trò, vị thế và trách nhiệm của mình trong hoạt động của Quốc hội. Tuy nhiên hiện nay 02 cơ quan này chưa được nêu trong Luật Tổ chức Quốc hội. Do đó tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung  02 cơ quan này là cơ quan do Quốc hội thành lập nhằm nâng cao chất lượng, công tác tham mưu của 02 cơ quan này và phù hợp với Hiến pháp (Điều 70 Hiến pháp quy định Quốc hội có quyền thành lập cơ quan khác, mà cụ thể là thành lập cơ quan chuyên môn thuộc Quốc hội) và Kết luận số 64 của Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa XI (về chuyển một số ban của UBTVQH thành Ban của Quốc hội). Đồng thời điều chỉnh tên gọi Ban Công tác đại biểu thành Ban Tổ chức Quốc hội và Ban Dân nguyện thành Ban Dân nguyện của Quốc hội và ghi rõ đây là cơ quan chuyên môn thuộc Quốc hội, do Quốc hội thành lập, có chức năng tham mưu giúp việc cho Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số lĩnh vực công tác hiện đang đảm nhiệm theo nguyên tắc rà soát bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ với các cơ quan khác và không phát sinh tăng thêm bộ máy. Cơ cấu Ban Tổ chức Quốc hội và Ban Dân nguyện Quốc hội gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, trong đó Trưởng ban do Quốc hội bầu, miễn nhiệm; Phó Trưởng ban do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.

Quy định như vậy là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hiện 02 Ban đang đảm nhiệm vừa thực hiện chức năng tham mưu cho Quốc hội vừa tham mưu cho UBTVQH. Đồng thời tạo vị thế tương xứng trong mối quan hệ với các cơ quan liên quan, ví dụ: về công tác tổ chức, thực hiện chế độ, chính sách và bồi dưỡng đại biểu dân cử (giữa Ban Công tác đại biểu với Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ), về công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo (giữa Ban Dân nguyện với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Thanh tra Chính phủ).

Thứ mười, về bộ máy giúp việc cho Đoàn ĐBQH (khoản 4 Điều 43) và kinh phí hoạt động của Đoàn ĐBQH (Điều 99 và Điều 101). UBTVQH đã ban hành Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 về việc thí điểm hợp nhất 03 Văn phòng tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương làm cơ sở cho việc tổng kết, xác định mô hình phù hợp phục vụ việc sửa đổi nội dung liên quan trong Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Để bảo đảm yêu cầu về tiến độ đã nêu trong Kế hoạch số 07-KH/TW của Trung ương, tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp nhất các Văn phòng ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước, do đó đề nghị chỉ quy định có tính khái quát về bộ phận giúp việc cho Đoàn ĐBQH ở các địa phương, không nêu tên Văn phòng Đoàn ĐBQH với tính chất là một đơn vị độc lập giúp việc cho Đoàn ĐBQH như trong Luật hiện hành. Theo đó đề nghị Văn phòng Quốc hội đảm bảo kinh phí hoạt động của Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố như quy định hiện hành nhằm đảm bảo cho Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố.


                                              Thạch Phước Bình
Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn chuyên trách
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Trà Vinh
Tin khác
1 2 3 4 5  ... 
70 NĂM QUỐC HỘI VIỆT NAM
Người đại biểu nhân dân










Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1747
  • Trong tuần: 14,549
  • Tất cả: 1,283,135